Thứ Sáu , Tháng Chín 21 2018
Untitled 2
Home / Dịch vụ tư vấn / Tư vấn giải quyết tranh chấp / Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền thu hồi đất không?
Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền thu hồi đất không - internet

Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền thu hồi đất không?

Câu hỏi: Tôi là Khoa, là chủ sở hữu hợp pháp thửa ruộng 5.000 m2 đất tại xã X, đã có Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất. Vừa qua, chính quyền xã chủ trương mở một con kênh thủy lợi đi ngang qua phần đất của tôi không những làm mất trắng của tôi 1.000 m2 đất mà hiện tại vẫn còn đang nạo vét thêm. Đất sau khi nạo vét thì đem đổ đi nơi khác, làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của tôi. Trước sự việc bị thu hồi đất trên, tôi đã làm đơn khiếu nại UBND xã. Theo biên bản làm việc giữa UBND xã và tôi thì UBND xã cũng đã thừa nhận việc cho đến thời điểm này, xã vẫn chưa trao bất kì một quyết định thu hồi đất nào cho tôi mà chỉ giải thích hết sức chung chung, không dựa vào bất cứ một cơ sở pháp lí nào cả. Vậy quý công ty cho tôi hỏi: Việc thu hồi đất của UBND xã đúng hay sai?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Trong trường hợp trên, việc thu hồi đất của UBND xã X là sai. Vì:

Thứ nhất, bạn là chủ sở hữu hợp pháp của mảnh đất 5.000 m2 trên vì bạn có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thứ hai, đất của bạn được sử dụng vào mục đích vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, việc thu hồi đất đối với trường hợp này được quy định chặt chẽ về mặt thủ tục. Điều 67 Luật Đất Đai năm 2013 quy định: 

1. Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.

2. Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất.

3. Người có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

4. Khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất”.

Căn cứ theo Khoản 1 Điều này khi bị UBND xã X thu hồi đất, bạn vẫn chưa được thông báo về diện tích đất bị thu hồi cũng như những vấn đề trên. Không những thế, hiện tại số đất đó “vẫn còn đang nạo vét thêm”. Như vậy, UBND xã X vẫn chưa hoàn thiện kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất mà đã tiến hành thu hồi đất.

Thứ ba, theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 Luật đất đai năm 2013 thì:

“2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam”.

Thứ tư, căn cứ vào khoản 1 Điều 75 Luật đất đai năm 2013:

“Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp”.

Qua những căn cứ trên kết luận, việc UBND xã X thu hồi đất của gia đình bạn là sai với quy định của pháp luật.

Trong chương trình luật sư của doanh nghiệp trên kênh thị trường kinh tế tài chính VITV Luật sư Nguyễn Thanh Hà chủ tịch công ty luật SBLAW trao đổi về thẩm quyền ban hành điều kiện kinh doanh. Mời quý vị đón xem đoạn video sau đây:

 

Untitled-1

Gửi yêu cầu tới luật sư

Họ tên:
Điện thoại:
Công ty:
Email:
Tiêu đề:
Nội dung:

Chat Zalo: 0904340664